i. đại cương
+ Thoát vị bẹn là tình trạng một tạng trong
ổ bụng rời khỏi vị trí, chui qua ống bẹn xuống bìu.
+ Giải phẫu ống bẹn.
ống bẹn là một đường hầm tạo nên bởi cân cơ của thành bụng trước bên. ống
bẹn dài khoảng 6 cm tương ứng với 1/2 trong của đường nối từ gai mu đến một
điểm cách gai chậu trước trên 1cm về phía trong.
Có 2 lỗ bẹn:
- Lỗ bẹn nông (lỗ bẹn trong).
- Lỗ bẹn
sâu (lỗ bẹn ngoài).
+
Phân loại thoát vị bẹn
- Thoát vị bẹn bẩm sinh: do
tồn tại ống phúc tinh mạc.
- Thoát vị bẹn mắc phải: do
cân cơ thành bụng yếu, nhẽo, trong lúc áp lực ổ bụng tăng cao.
ii. Triệu chứng
1. Triệu chứng cơ năng.
Xuất
hiện khối phồng ở vùng bẹn bìu, khối phồng to ra khi đi lại, lao động nhưng nằm
nghỉ thì mất hoặc tự tay đẩy lên được.
2. Triệu chứng thực thể.
a. Có khối phồng vùng bẹn bìu với đặc điểm:
- Khối
phồng nằm trên nếp lằn bẹn, chạy dọc theo chiều của ống bẹn (nếu là bẹn- mu).
- Khối phồng xuống thấp hơn (nếu là bẹn- bìu),
làm cho bìu to lên một bên nhưng điểm xuất phát vẫn nằm trên nếp lằn bẹn.
- Khối
phồng mềm, không đau, căng to hơn khi bệnh nhân rặn.
- Nếu
tạng thoát vị là ruột non thì gõ vang, nắn nghe thấy tiếng óc ách của nước và
hơi, nếu là mạc nối thì gõ đục.
- Dùng
tay nắn đẩy lên khối phồng mất đi, nhưng bảo bệnh nhân ho, rặn khối phồng lại
xuất hiện theo hướng chếch từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong.
b.
Thăm lỗ bẹn nông rộng.
c.
Có cảm giác khối thoát vị chạm vào đầu ngón tay khi luồn ngón tay vào lỗ bẹn
nông và bảo bệnh nhân ho.
d. Ngoài ra cần khám để phát hiện:
tinh hoàn lạc chỗ, tràn dịch màng tinh hoàn, cần khám kĩ so sánh hai bên.
iii. Chẩn đoán
1. Chẩn đoán xác định
- Khối
phồng nằm trên nếp lằn bẹn, hoặc đã xuống tới bìu làm cho bìu to lên một bên.
- Khối
phồng mềm, không đau.
- Dùng
tay nắn đẩy lên khối phồng mất đi, nhưng bảo bệnh nhân ho, rặn khối phồng lại
xuất.
- Thăm lỗ bẹn
nông rộng.
-
Dấu hiệu chạm đầu ngón tay(+) khi luồn ngón tay vào lỗ bẹn nông và bảo bệnh
nhân ho.
2. Chẩn đoán phân biệt
a. Tràn dịch màng tinh hoàn: da bìu căng, không sờ được mào tinh hoàn, không bấu
được màng tinh hoàn, dấu hiệu soi đèn (+).
b. Nang nước thừng tinh: qua siêu âm xác định được.
c. Giãn tĩnh mạch thừng tinh: sờ bìu có cảm giác như sờ vào búi len, búi giun, dấu
hiệu Curling(+).
d. Viêm tinh hoàn: sưng, nóng đỏ đau.
iv. biến chứng
Nếu không được mổ thì ngày một to ra, ảnh hưởng đến lao
động, đi lại và có thể gây các biến chứng:
- Thoát vị bẹn thắt,
- Viêm dính tạng thoát vị với bao thoát vị.
- Chấn thương khối thoát vị làm tổn thương tạng ở trong
bao thoát vị.
v. Điều trị
1. Tuyến y tế cơ sở.
Khám phát hiện sớm bệnh nhân thoát vị bẹn.
Vận chuyển bệnh
nhân về tuyến bệnh viện.
2. Tuyến bệnh viện
a. Đeo băng:
áp dụng đối với trẻ nhỏ dưới 6 tuổi, đeo băng làm cho
khối thoát vị không sa xuống, tạo điều kiện cho ống phúc tinh mạc bịt lại, cân
cơ thành bụng phát triển khoẻ lên hy vọng có thể khỏi. Nếu không khỏi thì 7- 8
tuổi trở lên sẽ mổ.
Ngoài ra, phương pháp này còn áp dụng cho thoát vị bẹn ở
người già có bệnh kết hợp: suy tim, hen...
b. Phẫu thuật:
* Mục đích:
- Một là:
tìm khâu cổ túi và cắt túi thoát vị.
- Hai là:
tái tạo thành bụng, dù phương pháp nào thì thành bụng cũng được tái tạo trên
hai bình diện sâu và nông.
Việc xác định một phương pháp căn cứ vào: cách khâu hai
bình diện như thế nào, thừng tinh đặt ở đâu.
* Phương pháp:
- Halsted thừng tinh nằm trước hai bình
diện
- Bassini
thừng tinh nằm giữa hai bình diện
- Forgue, Kimbarovski thừng tinh nằm sau hai bình diện.