I. Đại cương

          + Lồng ruột là một bệnh lý cấp cứu ngoại khoa thường gặp ở trẻ em. Bệnh lý diễn biến do một đoạn ruột lộn lại và chui vào lòng của đoạn ruột kế cận.

          + Lồng ruột có thề gặp bất cứ ở lứa tuổi nào, nhưng gặp nhiều nhất là ở lứa tuổi 4 - 9 tháng.
          + Lồng ruột gặp ở bé trai nhiều hơn bé gái (tỉ lệ 2/1 - 3/1).
          + Bệnh xuất hiện nhiều vào mùa đông xuân (mùa có tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp cao) ít gặp ở trẻ suy dinh dưỡng, đa số gặp ở trẻ béo tốt, bụ bẫm.

          + Cơ chế bệnh sinh

          - Do mất sự cân đối nghiêm trọng giữa kích thước của hồi tràng và van hồi - manh tràng, do đó lồng ruột dễ xuất hiện.
          - Có tác giả cho rằng vùng hồi - manh tràng là nơi giao tiếp của hai luồng sóng nhu động ngược chiều nhau, nhu động xuôi chiều của hồi tràng và nhu động ngược chiều của đại tràng phải về phía manh tràng.

ii. triệu chứng LâM SàNG

1. Triệu chứng cơ năng
a. Đau bụng:
-         Là triệu chứng nổi bật nhất, biểu hiện: trẻ đột nhiên khóc thét, ưỡn người quằn quại, đạp chân, ban đêm cơn đau đánh thức trẻ dậy, ban ngày làm trẻ phải ngừng mọi hoạt động bình thường (bỏ chơi, bỏ bú), cơn đau mất đi đột ngột cũng như lúc xuất hiện, mỗi cơn đau kéo dài 5 - 15 phút, sau cơn đau trẻ có thể lại tiếp tục bú hoặc chơi, nhưng các triệu chứng lại tái diễn sau giây lát.
-         Cơn đau ban đầu thưa rồi mau dần, về sau vì mệt mỏi nên trẻ không la khóc như ban đầu nữa, nhưng tình trạng toàn thân suy sụp nhanh.
b. Nôn ra thức ăn:
Xuất hiện từ cơn đau đầu tiên ở hầu hết trẻ nhỏ, lúc đầu nôn ra sữa mới bú, giai đoạn muộn nôn ra dịch xanh hoặc vàng.
c. ỉa máu:
-         Là dấu hiệu ít nhiều đã muộn, vì vậy không nên chờ đợi để xác nhận chẩn đoán.
-         ỉa máu có thể xuất hiện ngay từ cơn đau đầu tiên (thường là lồng chặt, khó tháo) hoặc có thể xuất hiện muộn sau 24 giờ.
-         Đa số các trường hợp máu lẫn với chất nhầy, có thể có màu đỏ hoặc nâu và cũng có thể có vài giọt máu tươi chảy ra hậu môn, trong nhiều trường hợp máu chỉ được phát hiện khi thăm trực tràng.
2. Triệu chứng thực thể
a. Sờ thấy khối lồng:
-         Lúc  dịu cơn đau, sờ thấy khối lồng là một khối dài, di động, chắc, mặt nhẵn, đau khi ấn, nằm dọc theo vị trí của khung đại tràng.
-         Có trường hợp không sờ thấy khối lồng: do khối lồng nằm úp dưới bờ sườn phải, góc gan hoặc khi khối lồng xuống thấp hơn nhưng bụng lại căng trướng do tắc ruột đến muộn.
b. Hố chậu phải rỗng:
-         Là triệu chứng rất quan trọng nhưng lại khó phát hiện khi trẻ khóc, đau.
-         Nếu muộn các quai ruột lấp đầy hố chậu phải dấu hiệu này không còn.
c. Thăm trực tràng bằng ngón tay thấy có máu dính theo găng:
-         Chứng tỏ đã có xuất huyết ruột.
-         Nhiều bệnh nhân đến muộn, có thể sờ thấy đầu của khối lồng khi thăm trực tràng, có thể kết hợp sờ nắn bụng và thăm trực tràng để xác định khối lồng.
3. Cận lâm sàng
a. Xquang
    Chụp ổ bụng bơm barit  hoặc hơi vào đại tràng có hình ảnh đặc hiệu: hình càng cua, hình đáy chén, hình âm thoa.
b. Siêu âm:
      Khi cắt ngang khối lồng có hình “bia” đường kính trên 3 cm với vùng trung tâm tăng âm và vùng ngoại vi giảm âm.
III. CHẩN ĐOáN
1. Chẩn đoán xác định
Trường hợp đến sớm dựa vào phương trình Fovro để chẩn đoán:
-         Đau bụng từng cơn + sờ thấy khối lồng = lồng ruột.
-         Đau bụng từng cơn + thăm trực tràng có máu = lồng ruột.
-         Đau bụng từng cơn + hình ảnh X quang đặc hiệu = lồng ruột.
2. Chẩn đoán phân biệt
-         Lỵ cấp (trẻ còn bú ít bị).
-         Polip trực tràng
IV. Điều TRị 
1. Tuyến y tế cơ sở
-         Phát hiện sớm bệnh nhi, không cho bú, không dùng thuốc giảm đau.
-         Chuyển viện cấp cứu.
2. Tuyến bệnh viện
a. Tháo lồng bằng barit hoặc bằng khí
Ngày nay việc tháo lồng bằng khí đang được sử dụng phổ biến thay cho tháo lồng bằng barit; nếu không có chống chỉ định, áp lực tháo thường từ 80 - 100 mmHg, theo dõi dưới màn huỳnh quang.
Tỉ lệ tháo lồng thành công ở bệnh nhân đến sớm trong 24 giờ đầu là 90%, Các tiêu chuẩn cho biết đã tháo lồng thành công là:
* Tiêu chuẩn X quang: 
-         Barit hoặc khí ùa vào hồi tràng.
-         Manh tràng và đại tràng trở lại vị trí bình thường.
* Tiêu chuẩn lâm sàng:
-         Hết đau, hết nôn, ngủ yên.
-         Sau đó cho bệnh nhân uống 5 gram than hoạt, khi nào ỉa ra phân đen của than, trẻ ăn, chơi bình thường là cho trẻ ra viện được.
b. Điều trị bằng phẫu thuật
-         Chỉ định: khi lồng ruột có chống chỉ định tháo lồng bằng khí hoặc khi đã tháo lồng bằng khí không có kết quả.
-         Kỹ thuật tháo lồng: khi thấy khối lồng thì dùng tay nắn rất nhẹ nhàng từ dưới lên trên, ngược chiều nhu động ruột, đẩy lùi dần khối lồng. Nếu để muộn, có hoại tử ruột có thể phải cắt đoạn ruột.