I. Đại cương
1. Khái niệm
Sỏi thận là một bệnh thường gặp ở nước ta và các nước vùng nhiệt đới, do
nhiều nguyên nhân phối hợp gây nên, có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho
tính mạng người bệnh. Căn nguyên của bệnh đến nay vẫn còn tồn tại nhiều thuyết.
2. Nguyên nhân điều kiện thuận lợi
-
Yếu tố địa lí khí hậu: sống ở vùng núi đá vôi.
-
Vai trò của ăn uống: thiếu Vitamin đặc biệt Vitamin A khi
thiếu sẽ làm sừng hoá tổ chức liên bào đài bể thận.
-
Gãy xương lớn: nằm lâu và tăng nồng độ canxi và photpho
trong máu.
-
Nhiễm trùng đường tiết niệu: làm ứ đọng, thay đổi độ pH
nước tiểu, sự rối loạn bài tiết Mucoprotein trong nước tiểu, những sản phẩm của
quá trình viêm như nhầy mủ, tế bào biểu mô bong ra cũng tham gia vào quá trình
cấu tạo hạt nhân của sỏi.
-
Sự rối loạn chuyển hoá: bệnh cường giáp trạng, canxi kết
hợp với Mucoprotein tạo nên sỏi.
3. Tính chất và đặc
điểm của sỏi tiết niệu
-
Số lượng sỏi: có từ một viên đến hàng trăm viên (viện 103
gặp bệnh nhân có 1988 viên sỏi).
-
Kích thước sỏi: từ vài gam đến hàng trăm gam.
-
Hình dáng sỏi: đa dạng như san hô, mỏ vẹt, hình tròn.
-
Thành phần hoá học: đa dạng như Oxalat canxi, phosphat
canxi, cacbonat canxi, sỏi urat, xystin, cholesterin.
-
Vị trí của sỏi: sỏi nằm trong nhu mô thận, đài bể
thận, bể thận.
II. triệu chứng
1. Triệu chứng cơ năng
-
Đau vùng hố thận:
+
Đau cấp tính: điển hình là cơn đau quặn thận, cơn đau xuất hiện đột ngột
sau một hoạt động thể lực ở vùng thắt lưng, đau dữ dội không có tư thế giảm
đau, lan xuống vùng bẹn sinh dục. Khi dùng thuốc giãn cơ, nghỉ ngơi tình trạng
đau giảm dần.
+ Đau mãn tính: đau âm ỉ ở vùng thắt
lưng dễ nhầm với các bệnh lí khác, loại này do sỏi không bít tắc hoàn toàn
đường niệu.
-
Đái ra máu:
sau vận động thể lực, xuất hiện cơn đau và đái máu toàn bãi, nước tiểu như nước
rửa thịt.
-
Đái ra mủ:
thường xuất hiện ở những bệnh nhân ứ niệu do sỏi kèm theo tình trạng nhiễm
khuẩn, đái ra mủ kiểu “phong cầm” có nghĩa là khi đau và sốt cao thì đái trong,
nhưng khi xuất hiện đái mủ thì giảm đau, giảm sốt hoặc hết đau và hết sốt.
-
Đái ra sỏi:
là triệu chứng ít gặp nhưng rất có giá trị trong chẩn đoán.
-
Một số triệu chứng kèm theo: sốt, nhức đầu, buồn nôn...
2. Triệu chứng thực thể:
Tuỳ theo tình trạng ứ niệu và viêm nhiễm mà khám có thể
thấy:
Dấu hiệu rung thận
(+), chạm thận (+), bập bềnh thận (+).
3. Triệu chứng cận lâm
sàng
-
Sinh hoá máu: urê và
creatinin có thể tăng khi có tổn thương thận.
-
XN nước tiểu: có hồng
cầu, bạch cầu, các tế bảo viêm...
-
Xquang: chụp thận không
chuẩn bị, thấy hình cản quang.
-
Chụp thận thuốc (UIV):
cho biết chức năng của thận, vị trí, kích thước của sỏi, hình ảnh bên trong
đường tiết niệu.
-
Siêu âm: có hình ảnh
trực tiếp của sỏi hoặc hình ảnh gián tiếp như giãn đài bể thận.
III. chẩn đoán
1. Chẩn đoán xác định
-
Đau
vùng hố thận
-
Đái
ra máu
-
Đái
ra mủ
-
Đái
ra sỏi
-
Xquang,
siêu âm thấy hình cản quang của sỏi.
2. Chẩn đoán phân biệt
-
Cơn
đau quặn gan.
-
Chửa
ngoài tử cung vỡ.
-
Viêm ruột thừa cấp.
-
U
nang buồng trứng xoắn.
IV.
biến chứng
-
Thận ứ nước
-
Viêm
mủ đài bể thận.
-
Xơ
teo thận: tăng huyết áp, thiếu máu.
-
Thận
mất chức năng.
V. Điều trị
1. Tuyến y tế cơ sở
-
Phát
hiện sớm bệnh nhân.
-
Chuyển
nhanh về tuyến bệnh viện.
2. Tuyến bệnh viện
* Điều
trị nội khoa:
+ Chỉ định:
-
Sỏi nhỏ khả năng rơi
xuống được, kích thước sỏi < 7mm, thon nhỏ.
-
Chức năng thận còn tốt
(đánh giá qua chụp thận thuốc).
-
Tình trạng toàn thân
còn tốt.
+ Điều trị
-
Kháng sinh, lợi tiểu,
giãn cơ .
-
Đông y: lợi tiểu (kim
tiền thảo, mã đề..), chống viêm (kim ngân, bồ công anh..), bào mòn sỏi (hạt cây
chuối hột, rễ cây dứa dại..)
* Điều
trị phẫu thuật:
-
Chỉ định:
với tất cả những sỏi đã gây biến chứng, sỏi đã điều trị nội khoa tích cực không
kết quả.
-
Kỹ thuật:
mở bể thận lấy sỏi, rạch nhu mô thận hoặc bể thận lấy sỏi, cắt thận bán phần
khi sỏi khu trú ở một cực thận và nhiễm khuẩn, cắt thận toàn bộ khi thận mất
chức năng.
-
Kĩ thuật mới:
tán sỏi ngoài cơ thể, nội soi.