I. Đại cương
+ Theo quan niệm cổ điển, trĩ là tình trạng giãn tĩnh
mạch ở vùng hậu môn, trực tràng.
+ Nguyên
nhân gây trĩ chưa được biết một cách đầy đủ, người ta giải thích do một số
nguyên nhân sau:
-
Trĩ
hình thành là do suy yếu bẩm sinh của thành các tĩnh mạch trực tràng.
-
Thuyết
về cơ học: trĩ là do tăng áp lực trong ổ bụng do các nguyên nhân gây táo bón,
đái khó, ho nhiều, những người phải đứng hoặc ngồi lâu, mang vác nặng, các khối
u trong chậu hông bé gây chèn ép tĩnh mạch là các nguyên nhân gây trĩ.
-
Thuyết
nhiễm khuẩn: trĩ là do viêm hốc tuyến hậu môn - trực tràng gây tổn thương thành
tĩnh mạch trực tràng.
-
Những
năm gần đây, nhiều tác giả cho rằng trĩ không phải là bệnh lý của tĩnh mạch
trực tràng đơn thuần mà do các thể hang phì đại với các tĩnh mạch bị giãn.
+ Phân loại
-
Trĩ
nội: chân búi trĩ nằm trên đường lược, ở trên cơ thắt.
-
Trĩ
ngoại: chân búi trĩ nằm dưới đường lược.
-
Trĩ
hỗn hợp: búi trĩ nằm ở cả dưới và trên đường lược.
II. Triệu chứng
1. Triệu chứng
cơ năng
-
Đại
tiện ra máu, máu đỏ tươi, ra cuối bãi phân, nhiều khi máu chảy thành tia tưới
trên bãi phân.
-
Có
cảm giác tức nặng ở hậu môn và mót dặn.
-
Khi
đại tiện có thể thấy búi trĩ sa ra ngoài, lúc đầu tự co lên, về sau đẩy mới lên
và cuối cùng thường xuyên sa ra ngoài.
2. Triệu chứng thực thể
-
Thăm hậu môn trực
tràng: búi trĩ mềm, màu tím sẫm, rời từng búi, ấn vào thì xẹp lại. Vị trí
thường gặp ở điểm 3 giờ, 7 giờ và 11 giờ.
-
Soi hậu môn trực tràng;
búi trĩ có màu tím sẫm, căng, ấn đau, dễ chảy máu.
-
Khi nghi ngờ cần khám
kỹ để phân biệt với bệnh khác như Polyp hậu môn, rò hậu môn, ung thư trực
tràng.
-
Khám toàn thân để phát
hiện các bệnh mà trĩ chỉ là triệu chứng: VD trong hội chứng tăng áp lực tĩnh
mạch cửa, bệnh cao huyết áp, u bụng vùng chậu hông, bệnh nhân có thai.
Iii. biến chứng
-
Chảy
máu nhiều lần, kéo dài gây thiếu máu.
-
Huyết
khối búi trĩ do ứ trệ máu hoặc do chấn thương.
-
Rối
loạn chức năng của cơ thắt hậu môn, cơ thắt suy yếu không
giữ được phân và hơi, nếu là trĩ nội sẽ sa ra thường xuyên.
-
Gây
các bệnh thứ phát kèm theo như: nứt hậu môn, viêm hậu môn - trực tràng, rò hậu
môn trực tràng.
iV. điều trị
1. Tuyến y tế cư sở
- Khám phát hiện
sớm.
- Vận chuyển
bệnh nhân về tuyến sau điều trị.
2. Tuyến bệnh viện
* Nội khoa
+ Mức độ nhẹ cho ngâm nước muối ấm, nước đun các lá chát
(chè, trầu không)
+ Ăn uống chống táo bón.
+ Tiêm gây sơ hóa búi trĩ
(nước sôi, cồn, hoá chất).
* Ngoại khoa
+
Phẫu thuật thắt búi trĩ: thụt tháo sạch trước khi mổ, dùng chỉ thắt các búi trĩ
ở cuống, sau 7- 12 ngày búi trĩ sẽ rụng, có thể dùng dao điện cắt ngay các búi
trĩ sát cuống. Sau mổ dùng kháng sinh sau mổ, ngâm hậu môn bằng dung dịch thuốc
tím 1/4000 hàng ngày.
+
Phẫu thuật Whitehead:
Phương
pháp này được áp dụng trong trường hợp trĩ kèm theo sa niêm mạc trực tràng: cắt
vòng tròn niêm mạc ống hậu môn chỗ ranh giới giữa da và niêm mạc, cắt bỏ phần
niêm mạc sa và các búi trĩ, sau đó hạ niêm mạc trực tràng xuống nối với da của
ống hậu môn.
+
Ngày nay phẫu thuật theo phương pháp Longo.