1. Đại cương.
+ Thiếu vitamin A là nguyên nhân
chính gây mù loà ở trẻ dưới 5 tuổi.
+ ở nước ta, tỷ lệ thiếu Vitamin
A tiền lâm sàng (chưa có triệu chứng) vào khoảng 10%, dao động từ 4,2% đến
21,9% tuỳ theo từng vùng.
* Vai trò của vitamin A trong cơ
thể
+ Vitamin A (tên khoa học
Retinol), là Vitamin chỉ tan trong dầu, được tích lũy ở gan. Có nhiều trong gan
(đặc biệt là gan cá thu), sữa, trứng...
Thực vật có nhiều tiền Vitamin A,
trong đó các rau có màu xanh đậm, các loại quả có màu da cam chứa nhiều b
caroten (b caroten là một tiền vitamin A có
hoạt tính sinh học cao nhất). Khi vào cơ thể các tiền Vitamin A này được chuyển
thành vitamin A.
+ Về vai trò
- Có vai trò quan trọng trong sự
tăng trưởng của trẻ, tham gia tổng hợp hormone vỏ thượng thận; hoàn thiện các
tế bào miễn dịch nên nâng cao sức đề kháng cơ thể.
- Có
vai trò quan trọng trong tái tạo biểu mô da và các cơ quan.
- Đối với thị giác: là chất cần
thiết để tạo sắc tố thị giác (cần thiết để chuyển hoá Rodopsin và Iodopsin);
tái tạo biểu mô kết – giác mạc, bảo vệ sự toàn vẹn của giác mạc.
2. Nguyên nhân
+ Chế độ ăn thiếu Vitamin A:
thường gặp ở trẻ kiêng khem quá mức, trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ đầy đủ.
+ Rối loạn quá trình hấp thu
vitamin A: gặp trong tiêu chảy, hội chứng kém hấp thu (vitamin A muốn hấp thu
được qua ruột cần có các chất dầu mỡ, muối mật, dịch tuỵ và niêm mạc tốt).
+ Các bệnh gan, mật: suy gan, tắc
mật.
+ Suy dinh dưỡng: đặc biệt là thể
phù do thiếu nhiều Protein vì Protein có vai trò trong chuyển hoá và vận chuyển
vitamin A.
+ Tăng nhu cầu chuyển hoá vitamin
A như: sởi, thuỷ đậu, lao...
+ Thiếu các vi chất ảnh hưởng tới
chuyển hoá Vitamin A, ví dụ thiếu kẽm.
+ Nồng độ Vitamin A sữa mẹ thấp
(chiếm 53,8% trên tổng số các bà mẹ).
3. Triệu chứng
Có thể
gặp các mức độ tổn thương sau đây:
a, Quáng gà
Là hiện tượng giảm thị lực khi
thiếu ánh sáng - là biểu hiện sớm nhất của bệnh. Các triệu chứng thường rõ vào
buổi chập tối.
+ Đối với trẻ lớn có các biểu
hiện như:
- Trẻ đi lại khó khăn, hay vấp ngã, hay va vào các đồ vật khi trời nhá
nhem tối.
- Trẻ trở nên nhút nhát, chỉ ngồi
yên một chỗ, không dám đi lại đùa nghịch vào buổi chiều khi trời chập choạng.
+ Đối các trẻ chưa biết đi có các
biểu hiện như:
- Trẻ phải quờ quạng mới có thể
tìm được đồ vật.
- Đôi khi trẻ nhận nhầm mẹ với
người khác.
Các biểu hiện trên sẽ mất đi khi
điều trị bằng vitamin A liều cao sau 2-3 ngày.
b,
Khô kết mạc
Là tổn thương đặc hiệu do thiếu
vitamin A.
+ Kết mạc nhăn nheo, xù xì, có
màu vàng như sáp ong, mất sắc bóng.
+ Vệt Bitot: là những đám tế bào kết mạc bị khô, dày
lên, màu trắng xám, tạo thành vệt; không mất đi sau khi đã điều trị.
c, Khô mờ giác mạc
+ Giác mạc bị đục, trở nên sần
sùi, mất tính nhẵn bóng. Lúc đầu thường ở 1/2 dưới giác mạc.
+ Trẻ sợ ánh sáng, chói mắt, hay
nheo mắt.
d,
Loét nhuyễn, hoại tử giác mạc
Là tổn thương không phục hồi của
giác mạc. Giác mạc mờ, nhuyễn như thạch. Có thể bị hoại tử có thể dẫn đến thủng
giác mạc – gây mù loà hoàn toàn.
e, Sẹo giác mạc
Là di chứng của loét giác mạc.
Sẹo thường dúm dó làm teo nhãn cầu.
4. Điều trị
a, Điều trị.
Tất cả các giai đoạn bệnh từ
quáng gà đến khô kết mạc hoặc giác mạc...đều phải điều trị ngay theo phác đồ
của Tổ chức Y tế thế giới như sau:
*
Đối với trẻ > 1 tuổi:
+ Uống 200.000 UI vitamin A.
+ Sau 1 tuần uống tiếp 1 liều
200.000 UI vitamin A nữa.
*
Đối với trẻ < 1 tuổi:
+ Uống 100.000 UI vitamin A.
+ Sau 1 tuần uống tiếp 1 liều
100.000 UI vitamin A nữa.
*Triệu
chứng ngộ độc do thừa vitamin A:
+ Ngộ độc cấp tính: thường gặp ở
trẻ còn bú, sau khi cho uống trên 300.000 UI vitamin A kéo dài nhiều tuần có
dấu hiệu tăng áp lực nội sọ, trẻ bị buồn nôn, ngủ gà, thóp phồng.
+ Ngộ độc mạn tính: sau khi cho
thuốc kéo dài nhiều tháng, trẻ chán ăn, không tăng cân, ngứa, tăng kích thích,
vận động khó khăn, rụng tóc, nứt mép, gan to, mềm xương sọ, bong vảy ở gan bàn
chân, bàn tay.
b, Phòng bệnh
*
Cải thiện chế độ ăn: (chế độ ăn giàu vitamin A).
+ Nuôi con bằng sữa mẹ.
+ ăn sam đủ chất.
+ Bỏ tập quán ăn kiêng khi trẻ bị
ỉa chảy.
+ Các bà mẹ có thai và cho con bú
nên ăn nhiều thực phẩm giàu vitamin A.
*
Dùng vitamin A:
+ Đối với trẻ bị sởi: uống
200.000UI vitamin A (trẻ dưới 1 tuổi dùng nửa liều).
+ Trẻ dưới 6 tháng tuổi không bú
mẹ: uống 100000UI, liều duy nhất.
+ Trẻ 6 –12 tháng: 100.000UI, mỗi
4-6 tháng.
+ Trẻ trên1 tuổi: 200.000UI, mỗi
4-6 tháng.
+ Với các bà mẹ, trong vòng 4
tuần sau đẻ dùng 200.000UI vitamin A.
+ Các bà mẹ cho con bú không dùng
vitamin A liều cao, nếu được chẩn đoán thiếu Vitamin A, thì dùng liều nhỏ,
không quá 10.000UI/ngày.